Đồng hương Bến Tre tại Thành phố Hồ Chí Minh tích cực tham gia hoạt động nơi cư ngụ, chấp hành tốt luật pháp, giữ mối quan hệ gắn bó với quê hương; đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau và vận động hỗ trợ quê nhà.
BLL Thành phố Bến Tre
BLL Huyện Bình Đại
BLL Huyện Ba Tri
BLL Huyện Chợ Lách
BLL Huyện Châu Thành
BLL Huyện Giồng Trôm
BLL Huyện Mỏ Cày Bắc
BLL Huyện Mỏ Cày Nam
BBL Huyện Thạnh Phú
  1. Công viên Nghĩa trang Phúc An Viên
  2. Đang cập nhật
  3. Đang cập nhật
  4. Đang cập nhật
  
  
3090160
Truyền thống
 
Mãi mãi âm vang khí phách Nam kỳ Khởi nghĩa
Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra từ giữa đêm 22 rạng ngày 23/11/1940 đã đi vào lịch sử đến nay đã 74 năm (20/11/1940 - 23/11/2014). Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang có quy mô rộng lớn và mạnh mẽ nhất kể từ lúc giặc Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến khi nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ.

          Cuộc khởi nghĩa này đã đi vào lịch sử với nhiều địa danh, những tên tuổi anh hùng và lần đầu tiên xuất hiện cờ đỏ sao vàng năm cánh (trước trụ sở của Ban khởi nghĩa tỉnh Mỹ Tho tại dinh Long Hưng ở Chợ Lớn và một số tỉnh khác) cũng như lần đầu tiên trong tài liệu, truyền đơn xuất hiện tên gọi "Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà".

         

          Nhớ lại thời khắc lịch sử lúc đó, đất nước ta quân Nhật kéo vào Bắc bộ, thừa cơ quân Pháp bối rối, tháng 11/1940, bọn quân phiệt Thái Lan theo lệnh phát xít Nhật tiến đánh Campuchia. Thực dân Pháp bắt lính là người Nam bộ và người Khơme ra trận làm bia đỡ đạn cho chúng. Căm thù thực dân Pháp và được cổ vũ bởi tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, nhân dân Nam bộ sục sôi tranh đấu. Nam bộ lúc đó có phong trào mạnh mẽ hơn các nơi trong cả nước. Từ sau Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 6 (11/1939) họp tại Hóc Môn - Bà Điểm (Sài Gòn), mặc dù một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng bị bắt nhưng Xứ uỷ Nam kỳ vẫn củng cố và lớn mạnh.

          Tháng 3/1940, Ban thường vụ Xứ uỷ Nam kỳ do đồng chí Võ Văn Tần, uỷ viên Trung ương Đảng làm Bí thư đã vạch ra đề cương chuẩn bị bạo động đưa các hoạt động lẻ tẻ vào phong trào chống đế quốc Pháp và tay sai, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Cả Nam bộ rạo rực không khí chuẩn bị; nhiều cuộc biểu tình nổ ra giữa ban ngày. Có nơi, khi bọn mật thám kéo đến vây bắt cán bộ, ngay tức khắc nhân dân nổi trống mõ uy hiếp, đánh tháo cho cán bộ ta trốn thoát.

          Các đội tự vệ, du kích dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, phát triển ngay trong những xí nghiệp lớn ở Sài Gòn như Ba Son, F.A.C.I, bến tàu, nhà đèn Chợ Quán, trường Bách Nghệ... Tại các vùng nông thôn, phần lớn các xã đều có từ một tiểu đội đến một trung đội du kích. Làng nào cũng có lò rèn ngày đêm sản xuất vũ khí. Nhân dân góp nồi đồng, mâm thau, lư hương để du kích đúc đạn, thậm chí xuất hiện cả những cơ sở làm bom, lựu đạn xi-măng, súng thô sơ ở Móp Xanh (Tân An), Bà U (Mỹ Tho), chùa Hoà Thượng Đồng (Rạch Giá). Phong trào chống chiến tranh, chống bắt lính với khẩu hiệu "Không một người lính, không một đồng xu cho đế quốc chiến tranh" diễn ra sôi nổi trong nhân dân và binh lính. Do công tác binh vận của anh em ráo riết, phần lớn trong số 15.000 binh lính người Việt đóng ở Sài Gòn sẵn sàng phối hợp nổi dậy cùng lực lượng khởi nghĩa.

         Trước tình hình quần chúng sôi sục và chiến tranh Pháp - Thái sắp nổ ra, tháng 7/1940, Xứ uỷ Nam Kỳ họp mở rộng đã thông qua đề cương chuẩn bị khởi nghĩa do thường vụ Xứ uỷ khởi thảo. Đồng chí Phan Đăng Lưu, đại diện Trung ương Đảng, sau khi dự hội nghị này được cử ra Bắc họp Hội nghị Trung ương lần thứ 7 (từ ngày 6 đến 9/11/1940) để báo cáo và xin chỉ thị của Trung ương. Sau khi nghe đồng chí Phan Đăng Lưu báo cáo cặn kẽ việc chuẩn bị khởi nghĩa, Hội nghị Trung ương 7 đã phân tích sâu sắc tình hình, nhân định thời cơ khởi nghĩa chưa có và chủ trương duy trì lực lượng vũ trang của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, xây dựng căn cứ địa cách mạng, đồng thời hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ lại vì thời cơ của cách mạng chưa đến. Vì vậy, đề nghị Xứ uỷ Nam Kỳ chưa nên phát động khởi nghĩa. Trung ương cũng phái đồng chí Phan Đăng Lưu quay trở lại để hoãn cuộc khởi nghĩa. Tiếc rằng, thời điểm đồng chí Phan Đăng Lưu mang Chỉ thị của Trung ương về tới Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa đã triển khai tới tận cơ sở, không thể thu hồi lại được nữa.

          Ngày 20/11/1940, lệnh khởi nghĩa được ban hành và cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã nổ ra giữ đêm 22 rạng ngày 23/11/1940. Trước đó, tháng 9/1940 đồng chí Tạ Uyên nhận được một tờ truyền đơn kêu gọi nhân dân nổi dậy của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, nhưng truyền đơn không nói rõ khởi nghĩa ở đâu, nên đồng chí Tạ Uyên nhầm tưởng miền Bắc khởi nghĩa. Đồng chí liền triệu tập hội nghị cấp tốc Xứ uỷ mở rộng tại Xuân Thới Đông, Hóc Môn (lúc này đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai cũng đã bị địch bắt). Sau khi phân tích tình hình, hội nghị nhất trí chủ trương khởi nghĩa ngay, không chờ đồng chí Phan Đăng Lưu về. Hội nghị cũng quyết định lấy quốc kỳ là "nền đỏ sao vàng năm cánh". Phân công cán bộ phụ trách các mặt công tác trước, trong và sau khởi nghĩa; đồng thời trao quyền cho Ban Thường vụ Xứ uỷ ra kế hoạch chi tiết, ban hành luật khởi nghĩa.

          Trước khởi nghĩa, có tên Qưới là gián điệp của Pháp cày vào tổ chức của ta, nên sáng ngày 22/11/1940, Xứ uỷ tổ chức họp ở số nhà 160 đường Đuy-ốt để nghe đồng chí Tạ Uyên phổ biến kế hoạch khởi nghĩa cho Thành uỷ Sài Gòn - Chợ Lớn. Đến 9 giờ sáng, đồng chí Nguyễn Như Hạnh, Bí thư Thành uỷ họp xong ra tới đường thì bị bắt và 15 giờ đồng chí Tạ Uyên - Bí thư Xứ uỷ mới thay đông chí Võ Văn Tần đã bị địch bắt từ ít tháng trước cũng bị địch bắt khi trở lại ngôi nhà này. Tối 22/11/1940, đồng chí Phan Đăng Lưu vừa về đến Sài Gòn, đã bị địch bắt.

          Tuy kế hoạch của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã phần nào bị địch đánh hơi thấy trước ít ngày. Các đồng chí lãnh đạo Xứ uỷ Nam Kỳ và một số đồng chí khác trong Thành uỷ Sài Gòn sa lưới mật thám; bọn thực dân ra lệnh cấm trại binh lính người Việt và tước vũ khí của số lính phản chiến; kế hoạch định lấy tiếng súng đánh chiếm thành phố Sài Gòn vào lúc 24 giờ 22/11/1940 làm súng lệnh không thành. Mặc dù vậy, đêm 22 rạng sáng 23/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ vẫn bùng nổ với khí thế mạnh mẽ và quy mô lớn chưa từng có.

           Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bị bại lộ, địch phản kích quyết liệt từ đầu và theo kế hoạch, Sài Gòn đã không có pháo lệnh, nhưng tất cả các tỉnh, khi nhận được lệnh khởi nghĩa đều chấp hành nghiêm chỉnh và quần chúng tham gia rất đông đảo với một khí thế rất mạnh mẽ. Phần lớn các tỉnh nổ ra khởi nghĩa vào ngày 23/11/1940. Chỉ trừ Hà Tiên, Trà Vinh, Bà Rịa, Vũng Tàu, còn lại các tỉnh thành Nam Bộ đều đồng loạt đứng dậy. Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang của toàn xứ uỷ Nam Kỳ có quy mô rộng khắp và mạnh mẽ nhất từ khi Pháp xâm lược nước ta năm 1858 đến 1940 dưới sự lãnh đạo của Đảng.

           Có thể nói, thời khắc lịch sử ấy, nông thôn vùng đất Nam Bộ rung chuyển, từ Biên Hòa đến Cà Mau, 18 tỉnh nổi dậy cướp chính quyền; tại Mỹ Tho, 54 trong số 56 xã được giải phóng; tại Chợ Lớn ta giành được nhiều tổng; tại Tân An, các xã hai bên bờ sông Vàm Cỏ Tây, hữu ngạn Vàm Cỏ Đông đều về tay nhân dân. Cờ đỏ sao vàng và cờ đỏ búa liềm được kéo lên trước nhà làm việc của chính quyền cách mạng.

            Vào năm 1931, khi bị giam ở Khám lớn Sài Gòn, đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng có lần tâm sự: Sau này nước nhà độc lập, ta sẽ lấy quốc kỳ màu đỏ có ngôi sao năm cánh tượng trưng cho năm giới công, nông, binh, trí và thương đoàn kết xung quanh Đảng. Nhớ lời đồng chí Trần Phú, các đồng chí ở Mỹ Tho lúc này đã gương cao cờ đỏ sao vàng bên cạnh cờ Đảng trên mái đình Long Hưng, nơi lập chính quyền cách mạng đầu tiên trong tỉnh. Màu cờ đỏ rực sáng trên những cánh đồng bát ngát của vùng châu thổ đất chín rồng.

           Có thể nói, khởi nghĩa Nam Kỳ, quần chúng được Đảng tổ chức đã dùng bạo lực cách mạng kết hợp lực lượng vũ trang với lực lượng chính trị tiến công làm tan rã từng mảng chính quyền tai sai của Pháp ở cấp cơ sở xã, ấp. Thực dân Pháp điên cuồng đàn áp và quan trọng nhất là tiêu diệt chính quyền cách mạng; máy bay dội bom xuống làng mạc, thôn xóm. Cùng với quần chúng, quân du kích Nam Kỳ đã chiến đấu vô cùng anh dũng. Tại Hóc Môn (Gia Định) cách Sài Gòn 20km, dưới sự chỉ huy của đồng chí Mười Đen - Xứ uỷ viên, du kích vây đồn, chặn đánh địch tiếp viện ở Cầu Bông, giết tên Ác-Nôn, Chánh xứ tỉnh Tây Ninh và một số lính, thu 15 súng rồi kéo lên Truông Mít (Thủ Dầu Một). Tại Cần Giuộc, Bến Lức, đội du kích của nữ đồng chí Nguyễn Thị Bảy đã làm cho bọn địch kinh sợ phải gọi chị là "Bà Chúa Đỏ". Tại Vũng Liêm (Vĩnh Long) dưới sự chỉ huy của nữ đồng chí Hồng, ta làm chủ hoàn toàn huyện lỵ. Tại Mỹ Tho, hàng ngàn du kích do Bí thư Tỉnh uỷ chỉ huy bức rút 02 đồn, phá hoại gần 10 km đường bộ, 14 cầu, ngăn 06 con sông, làm hư hỏng nặng đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho. Ở nhiều nơi, ta đã thành lập chính quyền cách mạng ở cơ sở, như ở Mỹ Tho, có xã ta nắm chính quyền được 49 ngày. Có địa điểm, ta mở toà án để quần chúng xét xử những tên phản động. Một số nơi, ta tịch thu ruộng đất, phá kho thóc của địa chủ chia cho dân nghèo và nuôi nghĩa quân.

              Ngày 1/12/1940, điện của Toàn quyền Đông Dương Decoux ghi rõ: "Cần dùng tối đa các biện pháp và bóp nghẹt không thương tiếc bọn phiến loạn". Tuân theo sự chỉ đạo của Decoux, thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh thiết quân luật; huy động hải, lục, không quân, toàn bộ cảnh sát, mật vụ, lính khố xanh, lính làng... dùng cả xe tăng, tàu chiến, máy bay đàn áp nhân dân ta. Giặc Pháp khủng bố rất khốc liệt, dã man, chúng đốt làng, đốt rừng, đưa quân ruồng bố, bắn giết, bắt bớ giam cầm, chà đi xát lại suốt tháng 12/1940 đến đầu năm 1941. Tính đến ngày 31/12/1940, ở các tỉnh có phong trào khởi nghĩa gần 6.000 người đã bị bắt và bị giết (giặc lấy dây thép xâu tay rồi phơi nắng cho đến chết khô, hoặc chất lên sà lan đưa ra biển nhận chìm).

              Nghĩa quân ta ngày càng gặp thêm nhiều khó khăn, phải lên Truông Mít (Thủ Dầu Một) và Bình Hoà - Bình Thành nằm trong vùng Đồng Tháp Mười và U Minh để củng cố lực lượng chờ thời cơ mới. Tháng 12/1940, Đảng bộ Nam Kỳ họp ở Bà Quẹo (Gia Định) cũng quyết định rút lui để tránh tổn thất, đưa lực lượng còn lại xây dựng căn cứ ở rừng U Minh và Đồng Tháp Mười. Ngay từ khi được tin Nam Kỳ khởi nghĩa, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra thông báo khẩn cấp, chỉ thị cho các địa phương chia lửa với Nam Kỳ. Từ việc rải truyền đơn, bãi khoá, bãi thị đến việc phát động du kích, nếu có điều kiện phá đường, phá cầu cống ngăn quân thù đàn áp. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy bị dập tắt, nhưng bọn thực dân vẫn chưa hết hoảng sợ.

              Ngày 10/3/1941 ở Đức Hoà (Long An), toà án binh địch đã xử bắn 29 người. Chúng đã đánh chết đồng chí Tạ Uyên trong nhà tù. Chúng xử tử cả những người đã bị bắt trước đó như đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Thị Minh Khai. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam có một cuộc tàn sát quy mô lớn các đồng chí lãnh đạo, những người con ưu tú của dân tộc, của Đảng đã bị giặc Pháp giết. Tấm gương hy sinh dũng cảm của các đồng chí mãi mãi ngời sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

            Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy thất bại, nhưng đã có tiếng vang lớn, chẳng những trong nước mà còn làm nức lòng cả những chiến sĩ cách mạng ở Pháp. Sau cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa, Đảng Cộng sản Pháp đã gửi đến Đảng Cộng sản Đông Dương một bức thư, trong đó có đoạn: "... Chúng tôi cúi đầu trước vong linh những người chiến sĩ đấu tranh cho tự do đã hy sinh hồi tháng 11 dưới súng liên thanh của Decoux, Beaudouin, Pétain... Chúng tôi kính cẩn nghiên mình trước những người anh hùng đó, đặc biệt chúng tôi nghiêng mình trước những anh chị em ruột thịt anh hùng là đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương".

               Khởi nghĩa Nam kỳ là trang sử liệt oanh của đất Đồng Nai, của miền Nam "đi trước về sau" trên suốt chặng đường cách mạng của đất nước. Khởi nghĩa Nam Kỳ là tấm gương sáng chói về tinh thần kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam. Qua trận thử lửa này, quần chúng càng gắn bó với Đảng, càng tôi luyện chí khí cách mạng, củng cố nhận thức con đường sống duy nhất của dân tộc là phải dùng bạo lực cách mạng đập tan bạo lực phản cách mạng của bọn đế quốc và phong kiến, giành lại độc lập tự do. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ tuy không thành công và mặc dù chính quyền cách mạng chỉ giữ được một thời gian ngắn (lâu nhất ở Mỹ Tho có xã giữ được 49 ngày), nhưng cũng như cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh của 10 năm trước, đó là những ngày hội tràn đầy nhiệt huyết về lòng yêu nước của quần chúng nhân dân. Cùng với khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ đã chứng tỏ lòng yêu nước, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh của các các chiến sĩ Nam Kỳ khởi nghĩa quyết giành độc lập tự do cho đồng bào ta dưới sự lãnh đạo của Đảng dù bị chìm trong bể máu; khởi nghĩa Nam Kỳ đã góp phần hun đúc lòng dũng cảm, chí kiên cường cho Đảng, dân tộc ta để 5 năm sau làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám 1945 toàn thắng oanh liệt vang dội khắp năm châu.

             Kỷ niệm 74 năm ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23/11/1940 - 23/11/2014), là dịp để các thế hệ dân tộc Việt Nam ôn lại truyền thống vẻ vang về lòng yêu nước, nhất là thế hệ hôm nay và mai sau mãi mãi tự hào về những chiến công oanh liệt, những khí phách hiên ngang, dũng cảm, kiên cường, bất khuất của những đảng viên cộng sản và quần chúng nhân dân đã xả thân cứu nước, quyết đương đầu với thực dân Pháp để giành độc lập tự do cho đất nước. Ngày nay, được sống trong cảnh đất nước thanh bình, hơn bao giờ hết chúng ta càng nhớ tới công lao và sự hy sinh cao cả, to lớn của thế hệ đi trước, mỗi chúng ta tự soi rọi lại mình, đồng hành chung tay với xã hội bằng những việc làm có ý nghĩa thiết thực trong xây dựng đất nước, quê hương.

Nguồn: www.bentre.gov.vn
Thông tin khác
Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp-Chân dung người thầy thuốc Quân Dân Y
Đình An Hội đón nhận bằng công nhận di tích cấp tỉnh
Thường trực Tỉnh uỷ thăm gia đình cán bộ đã từng tham quân đội thời kỳ 1944 - 1945
Lãnh đạo tỉnh thăm, chúc mừng các tổ chức, chức sắc tôn giáo nhân dịp Giáng sinh năm 2014
Thêm ba di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh
Ba Tri: Ra mắt đội hát sắc bùa xã Phú Lễ
Lễ đón nhận bằng Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Tỉnh tại đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống
Bình Đại nhộn nhịp mùa Lễ hội Nghinh Ông
Đình Bình Hòa – Điểm đến hấp dẫn
Sự kiện Chiến thắng Lộ Thơ được công nhận di tích cấp tỉnh
Tôn tạo nhà cổ Huỳnh Phủ
Chùa An Linh đón nhận bằng xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh
Giồng Trôm “đất thép thành đồng”, điểm hẹn về nguồn lý tưởng
Miếu thờ và mộ Tán Kế Lê Quang Quan được công nhận di tích cấp tỉnh
Trường Trung học Tư thục Bình Hòa được công nhận là di tích cấp tỉnh
Di tích Đình Phú Tự và cổ thụ Bạch Mai
Tìm thấy di tích khảo cổ Chămpa niên đại 1000 năm
Hoàng thành Thăng Long chính thức là Di sản thế giới
Tòa thành Vô băng xây năm 1805 ở Hà Nội
Điều tra, thám sát khảo cổ học các di chỉ, di vật văn hoá Óc Eo ở Bến Tre
Bắc Ninh: Đình Đẩu Hàn và những nét văn hiến
Bia tiến sĩ trở thành Di sản tư liệu thế giới
Cây dừa Bến Tre trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc
Bảo tàng tỉnh Bến Tre
Video Clip
donghuongbentre@gmail.com
Hình ảnh    
Bản quyền © 2008 thuộc về Ban Liên lạc Đồng hương tỉnh Bến Tre tại TP.Hồ Chí Minh.. Thiết kế và phát triển bởi Khanhle